XÁC ĐỊNH KIỂU HÌNH VÀ KIỂU GENE CỦA VI KHUẨN Escherichia coli VÀ Klebsiella pneumoniae TIẾT ESBL PHÂN LẬP TẠI BỆNH VIỆN TỈNH BẠC LIÊU

XÁC ĐỊNH KIỂU HÌNH VÀ KIỂU GENE CỦA VI KHUẨN

Escherichia coli VÀ Klebsiella pneumoniae TIẾT ESBL

PHÂN LẬP TẠI BỆNH VIỆN TỈNH BẠC LIÊU

 

Ths. Nguyễn Thành Tín

                                                                                                               Khoa Xét Nghiệm

TÓM TẮT

Đặt vấn đề: Tỷ lệ đề kháng kháng sinh nhóm beta-lactamcủa hai loại vi khuẩn Escherichia coli và Klebsiella pneumoniae ngày càng tăng. Nguyên nhân chủ yếu là do vi khuẩn tiết ESBL. Trong số các gene phổ biến và quan trọng giúp hai loại vi khuẩn trên biểu hiện kiểu hình ESBL là TEM, SHV, CTX-M-Group1 và CTX-M-Group9.

Mục tiêu: (1) Xác định tỷ lệ các vi khuẩn đường ruột phẩn lập được theo từng loại bệnh phẩm thường gặp (máu, nước tiểu, đàm, mủ, dịch tổn thương phần mềm) tại khoa vi sinh Bệnh viện tỉnh Bạc Liêu. (2) Xác định tỷ lệvi khuẩn đường ruột thường gặp Escherichia coli, Klebsiella pneumoniae và Klebsiella oxytoca tiết ESBL. (3) Xác định kiểu gene thường gặp của các vi khuẩn đường ruột tiết ESBL.

Đối tượng – Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang. Chọn các trực khuẩn Gram âm đường ruột phân lập thường quy tại Bệnh viện tỉnh Bạc Liêu trong thời gian từ tháng 6/2017 đến tháng 03/2018. Xác định vi khuẩn tiết ESBL bằng máy tự động Vitek 2compact. Các chủng được phân tích xác định kiểu gene sinh ESBL bằng kỹ tuật multiplex PCR.

Kết quả: Trong 672 mẫu bệnh phẩm (không lặp lại) dương tính, Enterobacteriacae chiếm 56,1% (377/672), với bệnh phẩm máu là 53,1% (17/32); nước tiểu là 63,2% (17/19); đàm là 61,6% (213/346) và mủ là 49,1% (135/275). Non-Enterobacteriacae là 23,5% (158/672) và nhóm cấu trùng Gram dương là 20,4% (137/672). Trong 282 chủng Enterobacteriacae sinh men β-lactamase thì tỷ lệ chủng có kiểu hình ESBL là 43,3% (122/282) trong đó Escherichia coli có tỷ lệ sinh ESBL là 62,9% và Klebsiella pneumoniae là 24,5%. Đối với E. coli, có 90%(27/30) chủng có mang gene sinh ESBL, trong đó chủng mang 1 gene CTX-M-G1 hoặc CTX-M-G9 là 16,7%, mang 2 gene TEM+CTX-M-G1 là 40% và TEM+CTX-M-G9 là 10%. Đối với chủng K. pneumoniae, có 96,7% (29/30) chủng mang gene sinh ESBL, trong đó chủng mang 1 gene là 6,7%, mang 2 gene SHV+CTX-M-G1 là 26,7%, mang 3 gene TEM+SHV+CTX-M-G1 là 10%.

Kết luận: Tỷ lệ E. coli và K. pneumoniae sinh ESBL lần lượt là 62,9% và 24,5%. Tần suất mang gene ESBL của Enterobacteriace: mang 1 gene CTX-M-G1 là 16,7%, mang 2 gene TEM+CTX-M-G1 là 40%, SHV+CTX-M-G1 là 26,7%, mang 3 gene TEM+SHV+CTX-M-G1 là 10%.

Từ khóa: Bệnh viện Đa khoa Tỉnh Bạc Liêu, CTX-M, ESBL, SHV, TEM, Trực khuẩn Gram âm đường ruột.

  1. ĐẶT VẤN ĐỀ

Nhiễm trùng do vi khuẩn Gram âm sinh ESBL vẫn là yếu tố góp phần quan trọng nhất gây ra đề kháng kháng sinh nhóm β-Lactam và gây tử vong cao trên toàn thế giới. Men này được phát hiện đầu tiên ở Tây Âu vào giữa thập niên 80, gia tăng một cách đều đặn do vi khuẩn tiết β-lactamases đặc biệt là ESBLs. Cũng vì chính men β-lactamases giúp cho vi khuẩn đề kháng tất cả các kháng sinh nhóm penicillins, cephalosporin thế hệ 1, 2, 3, 4 và monobactam (aztreonam), trừ carbapenem(8), (14)Nhưng hiện nay một số chủng đã giảm nhạy cảm với kháng sinh nhóm carbapenem như Imipenem, Meropenem hay Ertapenem, trong khi việc tìm ra kháng sinh mới trên thế giới ngày càng giảm thì mức độ đề kháng kháng sinh ngày càng tăng. Trong khi đó E. coli và K. pneumoniae là hai loại vi khuẩn đường ruột chiếm đa số trong các trường hợp bệnh lý như nhiễm khuẩn máu, nhiễm khuẩn tiết niệu…mà thuốc chính được lựa chọn để điều trị cho tác nhân gây bệnh trên là β-lactams.

Hiện nay đã có hơn 350 loại men ESBL khác nhau đã được mô tả, Kiểu gene thường gặp nhất là TEM (Temoneria), SHV (Sulfhydryl variable), CTX-M (Cefotaxime hydrolyzing capabilities). Sự phân bố các kiểu gene cũng khác nhau giữa các quốc gia và các vùng địa lý(1). Theo nghiên cứu của SMART ở vùng châu Á Thái Bình Dương kiểu gene CTX-M-14, CTX-M-15 chiếm ưu thế ở các vi khuẩn đường ruột(11). Nhiều nghiên cứu báo cáo vi khuẩn Escherichi. coli và Klebsiella. pneumoniae là loài sinh ESBL thường gặp nhất. Tuy nhiên những loài vi khuẩn khác trong họ đường ruột và Pseudomonas cũng có khả năng tiết ra men này. Đặc biệt thuốc kháng sinh nhóm β-lactam sẽ không có hiệu quả (trừ Carbapenem) nếu ESBL dương tính kể cả kháng sinh đồ cho kết quả nhạy cảm. Ngoài kháng sinh đồ thường quy thì xác định vi khuẩn đường ruột sinh ESBL là cần thiết. Tuy nhiên việc xác định kiểu gene giúp hiểu sâu hơn cơ chế kháng thuốc ở mức độ phân tử.

Bên cạnh đó, tỷ lệ hiện hành của vi khuẩn sinh ESBL thay đổi trên thế giới; Nam Phi chiếm 8,8% – 13,1%; Ai Cập(2), (10) chiếm từ 11 – 42,9%; ở Việt Nam tỷ lệ ngày càng gia tăng; Bệnh viện An Bình TP. HCM (2014)(13) chiếm 29,9%, Bệnh viện Đại học Y Dược TP. HCM (2015)(15) chiếm 57,8%. Truy tìm qua các y văn, tạp chí khoa học, ngày càng có nhiều thông tin và nhiều nghiên cứu sâu hơn về vi khuẩn sinh ESBL. Việc chọn lựa kháng sinh ban đầu hiện nay là chọn lựa kháng sinh phổ rộng đủ mạnh, bao phủ phần lớn các tác nhân gây bệnh. Sau khi có kết quả kháng sinh đồ sẽ điều chỉnh cho phù hợp, đảm bảo tính hiệu quả, ít tốn kém và giảm sự phơi nhiễm của kháng sinh. Bệnh viện Bạc Liêu là một bệnh viện tuyến tỉnh, mỗi năm số lượng bệnh nhân nhập viện với tình trạng nhiễm trùng do vi khuẩn tiết ESBL ngày càng nhiều nhưng ở Bạc Liêu chưa có nghiên cứu nào về vi khuẩn tiết ESBL cũng như các gen có liên quan. Vì vậy chúng tôi thực hiện đề tài với các mục tiêu cụ thể như sau: (1)Xác định tỷ lệ các vi khuẩn đường ruột phân lập được theo từng loại bệnh phẩm thường gặp (máu, đàm, nước tiểu, mủ dịch tổn thương phần mềm) tại Bệnh viện Bạc Liêu. (2) Xác định tỷ lệ vi khuẩn đường ruột thường gặp Escherichia coli, Klebsiella pneumoniae và Klebsiella oxytoca tiết ESBL. (3) Xác định kiểu gene thường gặp của các vi khuẩn đường ruột tiết ESBL.

  1. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Địa điểm và thời gian nghiên cứu

Nghiên cứu được thực hiện trong thời gian từ tháng 6/2017 đến tháng 3/2018 tại khoa Vi Sinh – Bệnh viện Đa khoa Bạc Liêu và Bộ môn Xét nghiệm – Khoa Điều dưỡng kỹ thuật y học – Đại học Y Dược Thành Phố Hồ Chí Minh.

2.2. Đối tượng nghiên cứu

Tất cả các bệnh phẩm thường gặp như: máu, nước tiểu, đàm và mủ (tổn thương phần mềm) đã được đưa đến xét nghiệm tại phòng vi sinh Bệnh viện Đa khoa Tỉnh Bạc Liêu.

2.3. Phương pháp nghiên cứu

Định danh vi khuẩn đường ruột bằng máy Vitek2 compact. Xác định vi khuẩn Escherichia coli và Klebsiella pneumoniaetiết ESBL bằng máy Vitek2 compact. Xác định gen TEM, SHV, CTX-M-G1 và CTX-M-G9 bằng multiplex PCRđã được tối ưu hóa.

Chuẩn bị DNA để chạy phản ứng multiplex PCR phát hiện gen sinh ESBL của Enterobacteriacae: Từ khuẩn lạc thuần trên môi trường BHI. Hút 0,1ml dịch canh khuẩn cho vào 100ml đệm TE (pH 8.0). Đun sôi 1000C trong 10 phút. Ly tâm 14.000 vòng, thu dịch nổi và sử dụng cho phản ứng multiplex PCR. Mẫu dịch chiết còn lại lưu giữ -200C.

Trình tự mồi phát hiện các gen sinh ESBL bằng kỹ thuật multiplex PCR: gen đích SHV: sản phẩm 377 bp, TEM: sản phẩm 516 bp, CTX-M-G1: sản phẩm 233 bp, CTX-M-G9: sản phẩm 302 bp và 16S rRNA: sản phẩm 598 bp.

Chu trình nhiệt phản ứng multiplex PCR: Sử dung 5µl dịch chiết DNA cho vào mix và chạy PCR theo chu kỳ nhiệt: 1 chu kỳ 950C/15 phút; 30 chu kỳ: 950C/20 giây, 590C/40 giây, 720C/40 giây và 1 chu kỳ: 720C/ 6 phút.

Điện di: Trộn đều sản phẩm PCR và hút 5µl cho vào 1µl thuốc nhuộm màu (Ecodye). Cho vào giếng agarose 4%. Điện di 120V trong 30 phút tại nhiệt độ phòng. Chụp band sản phẩm PCR trên máy Biorad.

2.4. Phân tích thống kê

            Nhập dữ liệu vào Excel 2010. Xử lý số liệu và phân tích bằng phần mềm thống kê SPSS 20.0.

  1. KẾT QUẢ

Trong khoảng thời gian nghiên cứu từ 01/06/2017 đến 31/03/2018 tại Bệnh viện Đa khoa Tỉnh Bạc Liêu, chúng tôi đã thu thập được 672 chủng vi khuẩn. Trong đó vi khuẩn đường ruột chiếm 56,1% (377/672).

Bảng 3.1. Đặc điểm về từng loại bệnh phẩm

Chủng vi khuẩn Máu Nước tiểu Đàm Mủ
n  (%) n  (%) n  (%) n  (%)
E. coli 13 40,6 9 47,4 62 17,9 56 20,4
K. pneumoniae 3 9,4 1 5,3 113 32,7 22 8,0
K. oxytoca 0 0,0 0 0,0 2 0,6 1 0,4
*Các VKĐR khác 1 3,1 2 10,5 36 10,4 56 20,4
Tổng số các VKĐR (n=377) 17 53,1 12 63,2 213 61,6 135 49,1
Trực khuẩn Gram (-) không lên men đường 3 9,4 6 31,6 113 32,7 36 13,1
Cầu trùng Gram dương 12 37,5 1 5,3 20 5,8 104 37,8
Tổng số các VK phân lập được 32 100 19 100 346 100 275 100

Bệnh phẩm chiếm tỷ lệ cao nhất là nước tiểu với 63,2% (12/19), tiếp theo là đàm với 61,6% (213/346) và bệnh phẩm chiếm tỷ lệ thấp nhất là mủ và máu với 49,1% (135/275) và 53,1% (17/32).

Bảng 3.2. Đặc điểm về khả năng sinh ESBL

Vi khuẩn ESBL (-) ESBL (+) % từng loại VK ESBL (+)
n Tỷ lệ (%) n Tỷ lệ (%) n Tỷ lệ (%)
E. coli 52 32,5 88 72,1 88/140 62,9
K. pneumoniae 105 65,6 34 27,9 34/139 24,5
K. oxytoca 3 1,9 0 0 0/3 0
Tổng số 160 100 122 100 122/282 43,3

Tỷ lệ vi khuẩn đường ruột sinh ESBL là 43,3% (122/282) và không sinh ESBL là 56,7% (160/282). Tỷ lệ E. coli sinh ESBL là 62,9% (88/140), K. pneumoniae sinh ESBL là 24,5%% (34/139) và K. oxytoca là 0% (0/3).

Bảng 3.3 Tỷ lệ E. coli mang gen mã hóa ESBL

Tổ hợp gene E. coli
n=30 Tỷ lệ (%)
CTX-M-G-1 5 16,7
CTX-M-G-9 5 16,7
TEM/CTX-M-G-1 12 40,0
TEM/CTX-M-G-9 3 10,0
CTX-M-G-1/CTX-M-G9 2 6,7
Không phát hiện 3 10,0

Tỷ lệ E. coli mang 1 gen CTX-M-G1 và CTX-M-G9 là 16,7% (5/30), mang 2 gen TEM+CTX-M-G1 là 40% (12/30), TEM+CTX-M-G9 là 10% (3/30) và CTX-M-G1+CTX-M-G9 là 6,7% (2/30)

Bảng 3.4. Tỷ lệ K. pneumoniae mang gen mã hóa ESBL

Tổ hợp gene K. pneumoniae
n=30 Tỷ lệ (%)
SHV 2 6,7
SHV/CTX-M-G9 5 16,7
SHV/CTX-M-G1 8 26,7
TEM/SHV 4 13,3
TEM/CTX-M-G-1 4 13,3
TEM/SHV/CTX-M-G-1 3 10,0
TEM/SHV/CTX-M-G-9 1 3,3
TEM/SHV/CTX-M-G1/CTX-M-G-9 2 6,7
Không phát hiện 1 3,3

Tỷ lệ K.pneumoniae mang 1 gen SHV là 6,7% (2/30), mang 2 gen SHV+CTX-M-G1 là 26,7% (8/30), SHV+CTX-M-G9 là 16,7% (5/30), mang 4 gen TEM+SHV+ CTX-M-G1+CTX-M-G9 là 6,7% (2/30).

 

 

  1. BÀN LUẬN

4.1. Đặc điểm về loại bệnh phẩm và vi khuẩn hiện diện

Theo nghiên cứu của chúng tôi, bệnh phẩm chiếm tỷ lệ cao nhất là nước tiểu (63,2%), tiếp theo là đàm (61,6%) và bệnh phẩm chiếm tỷ lệ thấp nhất là mủ (49,1%) và máu (53,1%). Số liệu nghiên cứu cũng cho thấy tác nhân gây bệnh nhiễm trùng chiếm tỷ lệ cao nhất là nhóm vi khuẩn Gram âm đường ruột, đặc biệt là hai loại vi khuẩn thường gặp là E. coli và K. pneumoniae. Kết quả này tương tự với nghiên cứu tại Bệnh viện An Bình (2016) do Trần Thị Thủy Trinh và cộng sự (13)thực hiện cho thấy vi khuẩn đường ruột phân lập được chiếm tỷ lệ cao nhất (58,93). Trong đó, vi khuẩn E. colivà K. pneumoniae chiếm đa số với tỷ lệ lần lượt là 42,64% và11,28%.

4.2. Đặc điểm về khả năng sinh ESBL

Nghiên cứu của chúng tôi xác định được 43,3% chủng vi khuẩn đường ruột thường gặp là Escherichia coli và Klebsiella pneumoniaesinh ESBL. E. coli sinh ESBL nhiều nhất (62,9%) và kế đến là K. pneumoniae (24,5%). Không phát hiện thấy bất kỳ vi khuẩn K. oxytoca nào sinh ESBL, có thể vì cỡ mẫu quá nhỏ. Bên cạnh đó, bệnh phẩm máu có tỷ lệ vi khuẩn đường ruột sinh ESBL nhiều nhất (81,3%), kế đến là nước tiểu (60%), mủ (54,4%) và ít nhất là đàm (33,9%). Trong tất cả các bệnh phẩm này, tỷ lệ vi khuẩn E. coli sinh ESBL luôn cao hơn K. pneumoniae. Kết quả này tương tự với kết quả nghiên cứu của Laurent và cộng sự (Thụy Sĩ, 2015)(7)cho thấy tỷ lệ E. coli sinh ESBL là 63,8% và K. pneumoniaelà 27,7%. Tuy nhiên, nghiên cứu của Laurent và cộng sự cho thấy tỷ lệ mẫu cấy máu dương tính với vi khuẩn đường ruột sinh ESBL thấp hơn của chúng tôi (22,3%). Dù vậy, tỷ lệ vi khuẩn đường ruột sinh ESBL được xác định là lên đến 94,3% theo nghiên cứu của SMART (2015)(11). Trong nghiên cứu này, E. coli sinh ESBL (63,7%) cũng có tỷ lệ cao hơn K. pneumoniaesinh ESBL (26,2%). Tương tự, nghiên cứu của Mai Văn Tuấn và cộng sự (2008) cũng cho thấy Escherichia coli và Klebsiella pneumoniae là hai loại vi khuẩn đường ruột thường gặp nhất và có tỷ lệ sinh ESBL khá cao (30,4%). Trong đó, Escherichia coli có tỷ lệ sinh ESBL là 43,5%,Klebsiella pneumoniae có tỷ lệ 53,6% và phổ biến ở bệnh phẩm mủ (44,61%) hơn so với các bệnh phẩm khác như máu (10,77%), nước tiểu (20,07%) và đàm (10,77%). Một nghiên cứu khác của Hoàng Thị Phương Dung và cộng sự (2010) (3) tại Bệnh viện Đại học Y Dược Tp. Hồ Chí Minh cũng cho thấy tỷ lệ vi khuẩn đường ruột sinh ESBL khá cao (32,4%) với E. colisinh ESBL là 71,2% và K. pneumoniae sinh ESBL là15,2%. Tỷ lệ vi khuẩn đường ruột sinh men ESBL cao hơn (42,5%) trong nghiên cứu của Trần Thị Thủy Trinh và cộng sự (2016) (12). Trong đó, E. coli có tỷ lệ sinh ESBL là 52,2% vàK. pneumoniae có tỷ lệ 22,2%.

4.3. Tỷ lệ các genemã hóa ESBL

Trong nghiên cứu này, chúng tôi phát hiện những gene mã hóa kiểu hình ESBL thường gặp như TEM, SHV, CTX-M-G-1 và CTX-M-G-9 ở hai loại vi khuẩn E. coli  K. pneumoniae. Kết quả cho thấy có 93,3% chủng mang ít nhất một gene sinh ESBL, chỉ có 6,7% chủng không mang gene nào. Trong số các chủng vi khuẩn E. coli, tần số xuất hiện các kiểu gene sinh ESBL đã khảo sát là 90%; trong khi ở các chủng K. pneumoniae, thì tần số xuất hiện các kiểu gene sinh ESBL là 96,7%. Kết quả này cao hơn kết quả nghiên cứu của James Ogutu và cộng sự(6)tại Nhật Bản (2015) với 85,2%chủng mang ít nhất 1 gene sinh ESBL. Tần số vi khuẩn E. coli xuất hiện các kiểu gene sinh ESBL là 89,6% và tần số vi khuẩn K. pneumoniae xuất hiện các kiểu gene sinh ESBL là 83,7%. Trong khi đó, nghiên cứu của Nguyễn Đỗ Phúc và cộng sự (2013) (9) lại cho thấy tỷ lệ thấp hơn nữa, 75% chủng vi khuẩn đường ruột mang gene sinh ESBL. Tần số xuất hiện các kiểu gene sinh ESBL ở E. colilà 85% và tần số xuất hiện các kiểu gene sinh ESBL ở K. pneumoniae là 56,4%. Như vậy, theo thời gian, càng gần thời điểm hiện tại, thì sự xuất hiện các chủng vi khuẩn đường ruột mang gene sinh ESBL càng nhiều và tỷ lệ các vi khuẩn đường ruột phổ biến như E. coli và K. pneumoniae mang gene sinh ESBL cũng tăng lên. Điều này thật đáng lo ngại.

  1. KẾT LUẬN

Chúng tôi đã xác định được tỷ lệ vi khuẩn đường ruột phổ biến sinh ESBL là 43,3%. Trong đó, chủ yếu là E. coli(62,9%) và K. pneumoniae (24,5%). Chúng tôi cũng đã xác định được các kiểu gene phổ biến mã hóa kiểu hình ESBL của Escherichia coli và Klebsiella pneumoniae là TEM, SHV và CTX-M-G1 và CTX-M-G9.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

            1.Abed Z B, Hossein S K, Hamed E L, Mohammad A and Mohammad A (2015). “Dissemination of carbapenemases producing Gram negative bacteria in the Middle East”. Iranian Journal of Microbiology, 7(5): 226-246.

            2.Baguma A, Atek K and Joel B (2017). “Prevalence of Extended-Spectrum Beta-Lactamases-Producing Microorganisms in Patients Admitted at KRRH, Southwestern Uganda”. International Journal of Microbiology, 2017: 3183076.

            3.Hoàng Thị Phương Dung, Nguyễn Thanh Bảo và Võ Thị Chi Mai (2010). “Khảo sát trực khuẩn Gram âm sinh men ESBL phổ rộng phân lập tại Bệnh viên Đại học Y Dược thanh phố Hồ Chí Minh”. Y học TP. Hồ Chí Minh, Tập 14, Phụ bản của S2, Trang 202 – 205.

            4.Huỳnh Thị Hồng Nghĩa và Đông Thị Hoài Tâm (2016). “Nhiễm trùng cộng đồng do Enterobacteriacae tiết men beta lactamase phổ rộng tại bệnh viện Nhiệt Đới thành phố Hồ Chí Minh”. Y học TP. Hồ Chí Minh, Tập 20, Phụ bản của Số 1.

            5.Huỳnh Minh Tuấn, Trần Âu Quế Nhung, Nguyễn Kim Huyền, Vũ Thị Châm, Phạm Thị Lan, Hà Thị Nhã Ca và Nguyễn Thanh Bảo (2015). “Khảo sát tỷ lệ mắc bệnh và tính đề kháng kháng sinh của vi khuẩn đường ruột trong viêm phổi bệnh viện tại Bệnh viện Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh”. Y học TP. Hồ Chí Minh, Tập 19, Phụ bản của Số1, Trang 445 – 451.

            6.James O O, Qingmeng Z, Ying H, Huo Y, Lijie S, Bo G, Wenli Z, Jizi Z, Wenhui C, Wenjing L, Hong Z, Yang C, Wuqi S, Xiaobei C, Yingmei F and Fengmin Z (2015). “Development of a multiplex PCR system and its application in detection of blaSHV, blaTEM, blaCTX-M-1, blaCTX-M-9 and blaOXA-1 group genes in clinical Klebsiella pneumoniae and Escherichia coli strains”. Journal of Antibiotics, 68(12): 725-733.

            7.Laurent D, Laurent P and Patrice N (2015).  “Rapid Detection of ESBL-Producing Enterobacteriaceae in Blood Cultures”. Emerging Infectious Diseases, 21(3): 504-507.

            8.Leylabadlo H E, Hossein SK, Mehdi Y, Mohammad A and Mohammad A (2016). “Persistent infection with metallo-beta-lactamase and extended spectrum β-lactamase producer Morganella morganii in a patient with urinary tract infection after kidney transplantation”. Journal of Natural Science, Biology and Medicine, 7(2): 179-181.

            9.Nguyễn Đỗ Phúc và Nguyễn Lý Hoàng Ngân (2014). “Tần suất mang gene sinh beta- lactamse và AmpC Enterobacteriacae cộng đồng tại TP HCM năm 2013”. Y học TP. Hồ Chí Minh, Tập 18, Phụ bản của số 6, Trang 388 – 392.

            10.Nashwan A N, Bastiaan Z, Martine C R, Robert R, Yvette J D O, Janet A M, Cees A F, Willemina M, Christina M V G and Paul H S (2008). “Extended-Spectrum-Beta-Lactamase Production in a Salmonella enterica Serotype Typhi Strain from the Philippines”. Journal of Clinical Microbiology, 46(8): 2794–2795.

            11.SMART Asia-Pacific Group (2016). “Distribution of ESBLs, AmpC beta-lactamases and carbapenemases among Enterobacteriaceae isolates causing intra – abdominal and urinary tract infections in the Asia-Pacific region during 2008–14: results from the Study for Monitoring Antimicrobial Resistance Trends (SMART)”. Journal of Antimicrobial Chemotherapy, 72(1): 166–171.

            12.Trần Thị Thủy Trinh và Bùi Mạnh Côn (2016). “Đề kháng kháng sinh của các tác nhân gây nhiễm trùng đường tiết niệu tại Bệnh viện An Bình năm 2015”. Y học TP. Hồ Chí Minh, Tập 20, Phụ bản của Số 5, Trang 82 – 87.

            13.Trần Thị Thủy Trinh và Nguyễn Thanh Bảo (2014). “Tình hình đề kháng kháng sinh của vi khuẩn gây bệnh phân lập được tại Bệnh viện An Bình từ ngày 01 tháng 10 năm 2012 đến ngày 31 tháng 05 năm 2013”. Y học TP. Hồ Chí Minh, Tập 18, Phụ bản của Số 1, Trang 296 – 302.

            14.Yang Q, Hui W, Hongli S, Hongbin C,Yingchun X and Minjun C(2010). “Phenotypic and Genotypic   Characterization of Enterobacteriaceae with Decreased Susceptibility to Carbapenems: Results from Large Hospital- Based Surveillance Studies in China”. Antimicrobial Agents and Chemotherapy, 54(1): 573–577.

Trở thành người đầu tiên bình luận cho bài viết này!

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *